Saturday, February 20, 2016

NGƯỜI CHẾT KHÔNG YÊN - ĐCL



Ông nội tôi mất giữa năm Canh Dần, 1950. Tôi sinh ra cuối năm 1951, tức hơn một năm sau ngày mất nội tôi. Do đó, tôi cũng chẳng hình dung được gì về nội tổ. Nhưng qua lời kể của cha tôi và các cô chú, tôi hiểu được dòng họ mình. Một dòng tộc sống lâu năm ở đất Chợ Đồn. Ông sơ tôi người miền ngoài, vào Nam theo dòng người khẩn hoang lập ấp nơi vùng đất mới phương Nam, mà trạm dừng chân là vùng đất Đông Nam Phần. Ông bà sinh được 2 người con trai. Ông cố tôi sinh cơ lập nghiệp ở vùng Chợ Đồn, rồi con cháu sinh ra tản lạc ở Tân Vạn, Cù lao Phố, Bến Gỗ, do dựng vợ gã chồng...Người con trai kia định cư ở Tân Uyên, Lái Thiêu. Sinh thời, cha tôi thường nói, họ Đỗ ở Tân Uyên cũng có thể là dòng tộc nhà ta.Ông bà cố tôi sinh được 9 người con, theo thứ tự thì ông nội tôi thứ tám, ông Tám Quế đánh xe ngựa. Nhà nghèo, đông con, nên ông cố và ông nội chẳng có gì để lại cho con cháu. Chỉ có miếng đất trước mặt tiền Chợ Bửu Hòa hiện tại, nhờ cha và các cô chú tôi lưu giữ, khi chợ Bửu Hòa dời về đây năm 1958, đất biến thành phố chợ. Đó là địa lợi. Cám cảnh cái nghèo của mình, ông nội tôi cũng chẳng chịu chụp hình để con cháu sau nầy biết mặt, vì sợ cái nghèo bám đuổi theo con cháu. Sau thời gian lâm bệnh nặng, ông nội tôi từ giã cỏi đời sau ngày rằm tháng bảy một ngày, thọ 66 tuổi. Ông nội tôi sinh năm 1885, khi cầu Gành và cầu Rạch Cát được xây dựng năm 1903, ông có tham gia.

Bà cô Sáu tôi, tức người chị thứ sáu của nội tôi, là sui gia với phía gia đình bác Sáu Sử, cây xăng Biên Hùng, nơi công viên Biên Hùng ngày nay. Ba anh em bác sáu Sử có mua miếng đất ở Chợ Đồn, đối diện chùa Hút Gió, bên kia đường, phía sau là đám ruộng, kéo dài đến lò gạch Phước Mai, đi tới là mã Thằng Tây, tên dân gian thường gọi. Miếng đất nầy dùng làm khu thổ mộ dòng họ. Vì vậy, bà cô Sáu tôi đã xin cho em mình được một phần mộ và an táng nơi nầy. Mộ phần nằm nơi đầu lô đất, cách đường tỉnh lộ 16 không xa, khoảng 100 mét. Mộ phần được các con cháu xây bằng gạch, nền tam cấp, nắp mộ là 2 tấm xi măng cốt thép ghép lại và quét vôi.

Thời điểm đó, đất nước còn chiến tranh với người Pháp, dân cư sinh sống cũng thưa thớt. Theo những người lớn tuổi kể lại, khu vực đó gọi là xóm Rễ Tranh, ít nhà cửa. Phía sau cây xăng bác Sáu Nhược sau nầy, còn những cây dầu cao. Người ta đồn có con quỷ cái ở đó, tối đêm hoặc sáng sớm ra chọc ghẹo người đi chợ.

Có lần, nó ru con ngủ trên cây...
- À ơi, con ngủ cho say, để mẹ đi chợ mua bánh về cho con ăn...
Có anh say rượu nọ đi ngang qua, nghe vậy chửi thề,
- Đi chợ mua cái con c...nè...
- Ừ để mẹ đi chợ mua cái con c...cho con...

Thế là cái mình rớt xuống, rồi đầu, rồi tay chân...ráp lại, rượt anh ta chạy thụt quần, hết say.
Đó là giai thoại.

Sau trận chiến Mậu Thân, người dân ở vùng Tân Tịch, Bình Cơ, Bình Mỹ, Tân Phước Khánh... của Tân Uyên lánh cư xuống, dựng tạm nhà ở bằng vật liệu nhẹ. Đàn ông thì sắm xe lam chạy mưu sinh, hoặc làm công nhân các lò gạch gần bên. Sau năm 1975, người dân tứ xứ, miền Tây lên, miền Bắc vào, họ chiếm đất cất nhà, ngay cạnh mồ mã. Mộ nào nào không có thân nhân chăm sóc, họ san bằng cất nhà, chủ đất cũ thì lo sợ, không dám khai báo. Rồi họ tìm cách hợp thức hóa giấy tờ. Như ngay ở ngoài lề đường cạnh sân banh Chợ Đồn, hai bên đường vào rạp hát Phước Chung, các ngôi mộ bị san bằng cất nhà. dưới nền nhà là hài cốt. Cạnh đó có "Đài Chiến Sĩ" của họ đạo Cao Đài cũng bị lấn chiếm. Họ đạo phải đem ra thưa kiện với chính quyền.

Mộ phần của nội tôi không nằm ngoại lệ. Họ cất nhà sát bên, phóng uế tại chỗ. Gia đình phải xây hàng rào kẽm gai, rào lưới B40, để không bị xâm hại. Tội nghiệp nội tổ tôi quá, mồ mã sao giống trường hợp lăng mộ Đức Tả Quân bị vua xích xiềng.Vài năm gần đây, khi gia đình đi viếng mã, lại thấy phần mộ của nội tôi lọt thỏm vô nhà của họ. Lý do là cần nhu cầu cho sản xuất, cưa xẽ gỗ đóng bao bì xuất khẩu, họ nới rộng nhà xưởng, phần mộ nằm trong nhà. Được cái là che mưa che nắng, nhưng ngôi mộ bị thấp hơn vì họ nâng nền nhà cao lên. Thấy sự việc ngày càng phức tạp, chủ nhà cũng gợi ý, chú Tám của tôi đi đến quyết định cải táng cha mình. Trong dòng tộc, bây giờ chú Tám được xem như trưởng thượng, cô Sáu thì đau yếu.

Hôm đám giỗ ông nội tôi vừa qua, chú Tám có đưa ý kiến ra cùng con cháu, định ngày trùng cửu, mùng 9 tháng 9 ÂL, là thuận lợi, tốt ngày để cải táng. Nhưng sau đó chị tôi nhờ thầy tử vi phong thủy xem lại, tuy tốt ngày nhưng sát chủ. Do đó ngày cải táng được tiến hành sớm hơn 3 tuần lễ. Giờ hoàng đạo là từ 11 giờ đến 13 giờ. Dự lễ cải táng có chú Tám và các cháu nội. Cháu ngoại thì ít. Gia đình mời thầy tụng cúng vái vong linh, nhang đèn, hoa quả, tam sên cúng đất đai, người khuất mày khuất mặt. Con cháu cùng đốt nhang khấn vái. Sau hồi tụng niệm của sư thầy, các phu bốc cốt bắt đầu công việc. Dù nắp mộ là tấm đan xi măng mỏng, nhưng gia đình không cho đập, sợ động mồ, động mã. Họ dùng cưa máy điện cưa cắt. Bây giờ công việc làm của phu bốc mộ rất chuyên nghiệp, đầy đủ dụng cụ, có hệ thống. Sau đó là đến lớp cát. Theo chú tôi nói lại, lớp cát và đất đến đáy mộ dày khoảng 3 mét. Đào sâu được 2 mét là đến lớp bùn nhảo. Vùng đất nầy thấp, và có đất sét , ngày xưa thuận lợi cho việc làm gạch ngói. Đào thêm vài lớp đất nửa thì tìm được 2 miếng gỗ quan tài. Theo chú tôi, hồi đó nội nghèo nên áo quan làm bằng cây bằng lăng dễ mục. Sau đó đụng đến lớp đất đen, chú tôi nói là xương cốt đã hóa đất, nên hốt một số cho vào quách cùng 2 miếng ván quan tài. Đã 65 năm qua, nội tôi yên nghĩ dưới lòng đất, cũng bằng thời gian tuổi thọ của nội, thì xương cốt, răng cửa cũng chẳng còn gì. Theo thỏa thuận, phần bốc cốt, vận chuyển đất cát, gia đình tôi lo liệu. Phần dọn dẹp, đỗ đất lấp lại, do chủ nhà đảm nhận. Họ cũng muốn mình cải táng để thuận lợi làm ăn. Dù sao họ cũng có chút tự trọng. Họ cũng kể lại, phía trước mộ phần nội tôi, có cái mã không xây, còn bia đá. Thời gian trước có người chăm sóc, bây giờ không thấy đến nữa. Trong quá trình nâng nền nhà, mộ và bia đã bị lấp. Chú Tám tôi nhớ ra, khi nội tôi mất khoảng 100 ngày, cháu ngoại trai của bà cô Sáu tôi bị bệnh mất, chôn phía trước mộ phần nội tôi. Do đó, chú tôi về báo lại cho con cháu họ để đến cải táng, Người chết nầy lớn hơn chú Tám một tuổi, vai vế gọi chú tôi là cậu. Cũng như mồ mã bà cô mười, em gái thứ mười của nội tôi, thân mẩu của thầy giáo Lung ở cù lao Phố, đã được con cháu cải táng hàng chục năm nay.

Sau đó, chú tôi và các cháu đưa chiếc quách về bến sông Chợ Đồn cũ, để đưa ra sông Đồng Nai thủy táng. Ngày xưa, khi Chợ Đồn cũ còn tọa lạc nơi đây, đây là bến sông cho ghe thuyền chở thủy hải sản, trái cây, hàng hóa...đem lên chợ. Tàu đò về Bến Gỗ cũng có cập bến cho khách lên xuống. Chú tôi kể lại, trận bão lụt năm Nhâm Thìn 1952, sau buổi chiều gió bão thổi vào, đến tối là nước lũ dâng. Có chiếc tàu đò Bến Gỗ bị chìm gần Bến Gỗ, khách đi tàu bị chết gần hết. Bây giờ những người lớn tuổi mất đi, chúng ta chẳng còn ai để nhắc nhở chuyện ngày xưa. Theo đã thỏa thuận, 2 chiếc xuồng câu nhỏ từ xóm chài Ông Tỏ, Cầu Thủ Huồng đến, để đưa hài cốt và mọi người ra giữa sông thủy táng. Sư thầy cũng đọc kinh tụng niệm, rồi chú tôi là con trai, bốc những nấm đất chứa xương cốt cha mình rãi xuống sông. Nội tôi đã 66 năm sống cạnh sông nước Đồng Nai. Nước ngọt sông Đồng đã hòa vào cơ thể, thì bây giờ chút xương cốt còn lại cũng nhấp nhô theo sóng nước Đồng Nai. Sư thầy nói, có cụ ông 86 tuổi chết, nhà gần đây, 2 ngày nửa là hỏa táng. Nguyện vọng người chết là tro cốt sẽ được con cháu rãi xuống sông Đồng Nai, vì cha ông và ông là thợ giăng câu, tháng ngày lênh đênh cùng sóng nước.

Xin nói thêm về trường hợp mồ mã của bà ngoại tôi. 

Năm 1985, sau đám giỗ ông nội tôi một tuần lễ, bà ngoại tôi từ Long Thành lên thăm con gái, là má tôi, và các cháu ngoại. Hôm đó ngày chủ nhật, buổi chiều sau khi đài truyền hình chấm dứt chương trình phát sóng, má tôi đem bánh xèo cho ngoại ăn. Ăn được vài miếng, ngoại tôi ôm đầu kêu chóng mặt, nhức đầu. Má tôi đở mẹ nằm xuống đi-văng, xức dầu thoa bóp, và mời chú Sáu Kiến, y tá lâu năm, nhà ở phía sau, ra chẩn bệnh. Chú sáu ra đến nơi, bấm tay, đo mạch, rồi lắc đầu. Bà đã đi rồi. Sự việc diễn biến trong vòng nửa tiếng đồng hồ. Sau nầy mới biết, ngoại bị đứt mạch máu não và đột tử. Thời điểm đó phương tiện đi lại cũng khó khăn, phương tiện truyền thông liên lạc, điện thoại, cũng hạn chế. Hai đứa em trai tôi phải lấy chiếc Yamaha cà tàng chạy xuống Long Thành báo cho cậu Sáu tôi biết. Chiều hôm đó cũng ảnh hưởng cơn bão nên mưa gió tầm tả. Đứa cháu là tài xế chiếc xe 9 chỗ của công ty gốm Đồng Nai có ghé thăm. Chú Tám tôi đi làm về cũng ghé và bàn với ba má tôi,

- Bác gái chết ở đây cũng là phần số. Sẳn có cháu Thanh và xe ở đây, mình mượn cháu chở tôi xuống Long Thành bàn luận với anh Sáu. Nếu làm đám tang ở Chợ Đồn thì chở chiếc hòm về đây tẩn liệm. Nếu anh Sáu muốn làm đám tang ở Long Thành thì mình quay về chở thi thể bác gái về dưới.

Trước đó, để lo hậu sự cho mẹ, cậu tôi có mua cây gỗ tốt, nhờ thợ mộc đóng cái hòm cho ngoại, chưa sơn phết. Tối đó, gia đình cậu tôi theo xe lên Chợ Đồn và chở theo cái hòm. Đám tang tổ chức ở nhà ba má tôi. Nhiều người không biết, tưởng ba hoặc má tôi thất lộc, chứ đâu biết đó là tang lễ "má vợ ông Ba Trầm".

Cậu tôi muốn an táng mẹ già gần nhà để cậu và các con chăm sóc mồ mã thuận lợi. Dù rằng nơi quê nội, xã Thuận Giao, Bình Dương có Nghĩa trang Gia tộc họ Lưu, nhưng vì xa xôi nên cậu không chịu, dù bà con đã khuyên bảo, họ hàng sẽ chăm sóc thay cho. Gần nhà cậu ở Long Thành có cái nghĩa địa làng, cở vài chục mồ mã. Cậu làm đơn xin phép chính quyền địa phương. Họ bảo khu vực đó đã được qui hoạch cho nông trường cao su nên đã ngừng chôn cất. Cậu tôi thuyết phục mãi, họ cũng đồng ý với điều kiện là gia đình phải làm tờ cam kết, nếu giải tỏa sẽ không đền bù, khiếu nại. Cậu tôi đồng ý. Sau mấy ngày tổ chức tang lễ ở Chợ Đồn, gia đình cũng tổ chức di quan về Long Thành, quàng ở nhà vài tiếng đồng hồ để hàng xóm phúng viếng. Thế là ngoại tôi về với cát bụi, dù chỗ yên nghĩ không là quê hương. Thế rồi qui hoạch cũng bãi bỏ, "qui hoạch treo". Một khu công nghiệp ở gần đó do người Nhật đầu tư, nông trường cao su bị thu hẹp, vì mủ cao su rớt giá. Phần mộ ngoại tôi được các cháu nội, con cậu tôi, vì cậu tôi đã mất, xây dựng đẹp đẽ, bề thế. Khi cậu tôi mất, vì sợ rơi vào trường hợp như mẹ mình. nên trước đó cậu đã nhắn nhủ các con là hỏa táng. Tro cốt đựng trong hủ sành, xây trước sân nhà một cái am, như nhà mồ, để hủ tro cốt trong đó cho con cháu phụng thờ. Thấm thoát ngoại tôi mất đã 30 năm, giờ mồ yên mã đẹp nhờ thoát qui hoạch.

Bà cố tôi, tức bà nội má tôi, sanh 6 người con, ông ngoại tôi thứ bảy, là con trai út. Có lẽ được cưng chiều nên ông ngoại không làm gì cả, tối ngày say xỉn. Trái lại người anh trai thứ sáu, bác Sáu má tôi, học giỏi, được ra Hà Nội học, rồi được bổ nhiệm tri huyện một huyện của tỉnh An Giang. Bà cố tôi theo xuống ở với ông Sáu để được săn sóc về già. Khi bà cố mất, đám tang tổ chức ở An Giang và an táng dưới đó. Sau nầy, khi nghĩ hưu, ông Sáu tôi về ở Lái Thiêu cùng vườn tược, con cháu ở Sài Gòn. Sau năm 1975 vài năm, dòng tộc họ Lưu ở Thuận Giao, phía nội má tôi, bàn thảo xuống An Giang cải táng hài cốt bà cố về Nghĩa trang Gia tộc. Khi đào mộ lên để cất bốc, cái hòm vẫn còn nguyên vẹn, có lẽ do được làm bằng gỗ quí. Thế là quan tài bà cố được rửa ráy sạch sẽ, chở về Thuận Giao, cùng 2 cây thốt nốt. Theo tục lệ, người chết không chôn 2 lần, quan tài được đặt trên gò đất cao của nghĩa trang, nơi cổng vào, rồi dùng đất đấp phủ lên cao, tròn như mã người Hoa. Hai cây thốt nốt được trồng cạnh bên, đến giờ vẫn sống, nhưng không xanh tốt như ở miền Tây, vì thổ nhưởng, dù đó là đất gò cát.

Năm 2006, má tôi mất, theo nguyện vọng của má, các con đem về an táng ở Nghĩa trang Gia tộc. Ba tôi thấy chỗ nằm thoáng đảng, rộng rãi, nên có xin phép bà con bên vợ cho an táng ba cạnh má sau nầy.

Năm 2011, ba tôi mất, và anh chị em tôi làm theo ước nguyện, dù trước nữa, ba tôi đòi hỏa táng, vì sợ người chết không yên. Mộ phần ba má tôi được xây sóng đôi, nam tã, nữ hửu, có hàng rào bao bọc. Nhưng ba tôi căn đặn, không xây nóc nhà mồ, vì sống giữa trời đất thì ngủ giữa đất trời với trăng sao, thiên địa.

Khoảng 2 năm nay, khi đường cao tốc Mỹ Phước (Bến Cát) - Tân Vạn được xây dựng, nền đường lấy nền của đường xe lửa Sài Gòn - Lộc Ninh cũ, mở rộng ra. Thế là Nghĩa trang Gia tộc được nằm ra mặt tiền. Khi vào viếng mã song thân, chỉ cần dừng xe bên vệ đường, bước vào khoảng 15 mét là gặp mộ phần.

Sau bao năm chiến tranh, sau bao nhiêu bể dâu của thế sự, dân số nước ta ngày nhiều hơn. Hồi tôi học lớp nhất, dân số nước ta là 26 triệu. Hơn 50 năm sau, đã là hơn 90 triệu. Diện tích đất nước vẫn là 330.000 cây số vuông. Dù có phá rừng, lấp sông, lấn biển, con số chẳng là bao nhiêu. Ngày xưa, khi người thân mất, người ta có thể an táng trong đất nhà. Bây giờ không được phép, vì ô nhiểm môi trường. Nghĩa trang có khi bị phá bỏ để lấy đất xây dựng công trình. Như trường tiểu học Bửu Hòa đã quá chật hẹp, được xây dựng trên nền nghĩa địa Mỹ Khánh ở Dốc núi, nghĩa địa được chôn cất từ năm 1957. Rồi có những nghĩa trang được xây dựng, với cái tên mỹ miều, Công Viên Vĩnh Hằng, Nghĩa Trang Lạc Cảnh...ở Bình Dương, Vĩnh Cửu...với giá mỗi phần mộ từ vài trăm triệu đến bạc tỉ, vì được xem đó là nhà của người chết. Sống có nhà, thác có mồ. Mồ yên, mã đẹp...Một hình thức kinh doanh trên xác chết. Lại có những chỗ giá cả bình dân, vừa túi tiền. Đường vào chùa Hóc Ông Che, trên phần đất cao gần dốc chú Hỏa, có nghĩa trang do một công ty ở Sài Gòn xây dựng. Khi chôn cất ở đây, giá một phần mộ là 35 triệu đồng, tính luôn việc xây dựng mộ phần. Họ dùng xe máy xúc đất móc dài như giao thông hào, sâu khoảng 1,5 mét, rồi xây kim tỉnh cách nhau 2 mét. Khi cần an táng người thân, đến làm thủ tục với họ, rồi nhận huyệt mộ theo thứ tự, không có việc chọn phong thủy. Khi an táng xong, người của công ty sẽ xây dựng mộ phần ngay, theo cùng một qui cách. Chỉ khác là người nhà được chọn màu gạch men để ốp lát theo sở thích. Mỗi mộ phần có số thứ tự, số lô, để thân nhân nhớ chỗ khi thăm viếng. Khi đóng tiền đủ, họ cấp giấy chứng nhận, sổ đỏ. Và mỗi năm đóng mấy trăm ngàn tiền phí chăm sóc. Cô Năm và chú Út tôi được an táng ở đấy, nay mới 3 năm mà mộ chí đã đầy.

Người Việt Nam ta lấy nhân nghĩa làm trọng, lấy đạo lý làm gốc. Uống nước nhớ nguồn, công đức tổ tiên. Nhưng với cuộc sống xô bồ, sống hiện thực hôm nay, truyền thống cũng bị đảo lộn. Người chết như tội đồ, bị trục lợi. Người chết không yên. Buồn thay. Buồn thay.

Biên Hòa, ngày 12/10/2015.
Đỗ Công Luận


5 comments:

  1. Bài nầy tôi có gửi cho BH, không biết có đăng trong Đặc San Xuân không...ĐCL

    ReplyDelete
  2. Có đăng , mai chị sẽ đọc, mệt wá, chị đi khò....

    ReplyDelete
  3. Xin cám ơn chị Tuyết. Chúc chị ngủ ngon...ĐCL

    ReplyDelete
  4. Cam on Thi Si cho Dôn - DCL
    Bài hôi ky nây rât dây du vê chi tiêt cua gia dinh Ho DÔ tai Biên Hoà .
    Thân chuc nhà tho moi su an lành .
    A. Minh- Buu Long

    ReplyDelete
  5. Xin cám ơn anh hai Minh đã chia sẻ.
    Còn sức khỏe, còn minh mẫn, tôi ghi chép lại để cháu con xem. Nhưng mấy đứa con nói, ba hay nhắc chuyện xưa hoài...Tụi nó sống thực dụng hơn. Có xưa mới có nay...ĐCL

    ReplyDelete